Home / Uncategorized / Ung thư vú – Giai đoạn, yếu tố nguy cơ và liệu pháp điều trị

Ung thư vú – Giai đoạn, yếu tố nguy cơ và liệu pháp điều trị

Ung thư vú là một trong những bệnh ung thư thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu trên thế giới với số lượng ca mắc mới được phát hiện là 1.7 triệu người vào năm 2012. Tại Việt Nam,mỗi năm có khoảng 11.000 người mắc mới. Đây là bệnh phức tạp, có tỉ lệ tử vong cao. Trong các năm gần đây, chính phủ các nước đã đẩy mạnh nghiên cứu về cơ chế sinh bệnh, yếu tố nguy cơ, điều trị bệnh và thu được kết quả khá khả quan.   

  1. Các giai đoạn của ung thư vú

Các giai đoạn của ung thư vú được xác định dựa vào 3 yếu tố chính: Kích thước khối u, tình trạng bệnh lý của hạch bạch huyết và khả năng di căn xa của khối u.

Việc xác định giai đoạn bệnh là rất quan trọng bởi nó giúp bác sĩ đưa ra tiên lượng tốt nhất về bệnh và ra quyết định sử dụng phác đồ điều trị phù hợp đối với từng bệnh nhân.

Ung thư vú được chia làm 5 giai đoạn: 0, I, II, III, IV. Trong đó giai đoạn II gồm IIA và IIB, giai đoạn III gồm IIIA, IIIB, IIIC. Các giai đoạn cụ thể được đánh giá như sau:

  • Giai đoạn O: hay còn được gọi là ung thư biểu mô không xâm lấn (Ví dụ DCIS:ung thư biểu mô ống tại chỗ). Ở giai đoạn 0, các tế bào ung thư hoặc các tế bào bất thường không phải ung thư khu trú trong khu vực nó bắt đầu và không xâm nhập ra các mô lành hay các tổ chức lân cận.
  • Giai đoạn I : Các khối u nhỏ hơn 2 cm được tìm thấy tại vú hoặc trong hạch bạch huyết. Các khối u này đang có xu hướng lan ra ngoài mô vú và các hạch nách
  • Giai đoạn II :

+ IIA:

  • Chưa có dấu hiệu xuất hiện của u nguyên phát.
  • U nhỏ đường kính từ 2 cm đến 5 cm.
  • Có di căn hạch nách cùng bên và không di căn hạch vùng

+IIB:Kích thước khối u từ 2cm đến 5cm. Có di căn các hạch bạch huyết trong vùng

  • Giai đoạn III:

+ IIIA : Đường kính khối u chừng 5cm; tìm thấy tế bào ung thư trong 4-9 hạch bạch huyết kế cận. Tuy nhiên các tế bào ung thư trong hạch bạch huyết ở giai đoạn này  nhỏ và ít.

+ IIIB: Ung thư có kích thước bất kì đã lan ra thành ngực, da vú hoặc lồng ngực gây triệu chứng sưng, đau, loét, chảy dịch.

+ IIIC: Các triệu chứng của giai đoạn IIIB kèm theo di căn các hạch bạch huyết vùng thượng đòn, hạ đòn, lồng ngực, xương ức hoặc trung thất,…

  • Giai đoạn 4 :

Ở giai đoạn này ung thư đã lan đến các bộ phận khác của cơ thể, thường là gan, phổi, xương, não. Giai đoạn này chính là giai đoạn cuối, tiên lượng điều trị rất dè dặt

 

  1. Yếu tố nguy cơ của bệnh ung thư vú

Yếu tố nguy cơ không thể kiểm soát:

  • Giới: Nữ giới mắc ung thư vú nhiều hơn nam giới.
  • Tuổi: Càng lớn tuổi , tỉ lệ mắc bệnh càng cao, các ca mắc mới tăng nhanh kể từ 40 tuổi, trung bình trong khoảng 50-60. Vì vậy cần tăng cường sàng lọc ung thư vú sớm bằng cách tự khám vú hằng tháng, khám bác sĩ định kỳ thường xuyên sau tuổi 40
  • Tiền sử gia đình: Ung thư vú có tỉ lệ di truyền là 10%. Do vậy, những phụ nữ có người thân (mẹ, chị gái, em gái , con gái,..) mắc bệnh thì tỉ lệ mắc sẽ tăng lên từ 4 đến 6 lần, nếu trong gia đình có trên 2 người cùng bị ung thư vú thì nguy cơ bị bệnh còn cao hơn nhiều lần
  • Tiền sử ung thư: Những phụ nữ từng được chẩn đoán ung thư vú 1 bên, dù đã điều trị xạ trị và phẫu thuật thì vẫn có nhiều nguy cơ tái phát.
  • Yếu tố nguy cơ di truyền: Nguyên nhân phổ biến nhất là đột biến ở gen BRCA1 và BRCA2 (ung thư vú và gen ung thư buồng trứng). Thừa kế một gen đột biến từ cha mẹ có nghĩa là một gen có nguy cơ phát triển ung thư vú cao hơn đáng kể
  • Phụ nữ được chẩn đoán mắc một số bệnh lành tính nhất định có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao hơn. Chúng bao gồm tăng sản không điển hình, một tình trạng trong đó có sự gia tăng bất thường của các tế bào vú nhưng không phát triển ung thư.
  • Chu kì kinh nguyệt: những phụ nữ dậy thì sớm (trước 12 tuổi) hoặc sau khi đã mãn kinh (sau 55 tuổi) dễ mắc ung thư vú hơn
  • Mô vú: Những phụ nữ có mô vú dày đặc (như được ghi nhận bằng chụp quang tuyến vú) có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn.
  • Chủng tộc : Người da trắng có tỉ lệ mắc ung thư vú cao hơn những người Mỹ gốc Phi, nhưng khối u của phụ nữ Mỹ gốc Phi có tốc độ phát triển nhanh hơn, bệnh diễn biến rầm rộ, tỉ lệ tử vong của phụ nữ Mỹ gốc Phi khi mắc bệnh cũng vì vậy mà cao hơn
  • Tiếp xúc với bức xạ thường xuyên ( xạ trị, chiếu tia,…)
  • Diethylstilbestrol : Có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng sử dụng DES- Diethylstilbestrol tăng nguy cơ bị ung thư vú. Đây là loại thuốc dùng trong việc điều trị, kiểm soát, phòng chống các bệnh và triệu chứng:ức chế tiết sữa sau sinh,triệu chứng mãn kinh, viêm âm đạo
  • Bên cạnh các yếu tố nguy cơ không thể kiểm soát đã nêu trên thì có nhiều yếu tố chúng ta có thể kiểm soát và chủ động phòng tránh. Tìm hiểu và tự bảo vệ bản thân khỏi các tác nhân nguy cơ là bạn đã giảm một nửa nguy cơ mắc bệnh cho mình.

 

Các yếu tố có thể kiểm soát bao gồm:

  • Mang thai : Những phụ nữ không có con hoặc sinh con đầu lòng sau 30 tuổi có nguy cơ mắc bệnh cao hơn
  • Trẻ được bú mẹ 18 tháng đến 24 tháng thì mẹ giảm nguy cơ mắc bệnh
  • Chế độ ăn uống và sinh hoạt ảnh hưởng đến nguy cơ bị bệnh nói chung và bị ung thư vú nói riêng: Những phụ nữ thừa cân béo phì, chế độ ăn không hợp lý, thường xuyên dùng đồ ăn nhanh và lười tập thể dục thể thao dễ bị bệnh
  • Những phụ nữ mặc áo ngực quá chật liên tục trong 24h/ngày có tỷ lệ mắc cao gấp 3 lần những phụ nữ chỉ mặc áo ngực trong vòng 12h/ngày
  • Ngoài ra còn một số yếu tố nguy cơ khác như rượu, thuốc lá, chất kích thích, thuốc tránh thai hoặc sử dụng liệu pháp hormon kết hợp sau thời kỳ mãn kinh.

 

  1. Điều trị:

Câu hỏi luôn được các bệnh nhân đặt ra là ung thư vú có điều trị được không và điều trị bằng cách nào?

Cho tới nay, việc nghiên cứu điều trị bệnh này vẫn đang được tiếp tục và ngày càng hoàn thiện. Điều trị ung thư vú là sự phối kết hợp điển hình giữa phương pháp điều trị tại chỗ (phẫu thuật, xạ trị) và toàn thân(hóa trị, nội tiết, miễn dịch).Quan niệm về ung thư vú cũng được thay đổi: Ung thư vú không phải là bệnh tại chỗ mà là bệnh toàn thân. Chính vì vậy các phương pháp điều trị hệ thốngngày càng áp dụng rộng rãi và đạt kết quả khả quan trong điều trị ung thư vú

  1. Phẫu thuật : Có thể bảo tồn hoặc không bảo tồn. Phương pháp phẫu thuật được áp dụng chủ yếu cho các khối u nhỏ hơn 3 cm và không sờ thấy hạch nách. Đối với các khối u nhỏ, có thể phẫu thuật bảo tồn, cắt ¼ tuyến vú hoặc cắt khối u kèm khoét hạch rộng rãi và xạ trị. Tuy nhiên ở nước ta, bệnh thường phát hiện khi đã ở giai đoạn muộn, u có kích thước lớn, xâm nhập và da và lồng ngực, gây sưng loét ngực. Do vậy hầu hết phẫu thuật đều cắt toàn bộ vú

 

Ngoài phẫu thuật cắt vú,cần phải cắt bỏ 2 buồng trứng  ở phụ nữ trước mãn kinh trong trường hợp thụ thể estrogen và progesterone dương tính. Nguyên nhân do buồng trứng tiết ra estrogen nội sinh, đây là hocmon thúc đẩy sự phát triền nhanh hơn của các tế bào ung thư, khiến khối u tăng kích thước với tốc độ lớn, khiến bệnh phát triển không kiểm soát gây khó khăn cho điều trị

Cắt bỏ toàn bộ tuyến vú                                               Phãu thuật bảo tồn

 

  1. Xạ trị: Đây là phương pháp được sử dụng bắt buộc sau khi đã phẫu thuật cắt khối u với mục đích phát hiện và tiêu diệt các tết bào ung thư còn sót lại. Nhờ vậy mà ngăn chặn được các khối u tái phát sau này. Đối với mỗi bệnh nhân sau phẫu thuật cắt bỏ khối u và nạo vét hạch, cần xạ trị 3 vị trí là trên vú, trên da vùng ngực và trên các vùng hạch như hạch nách, hạch thượng dòn, hạ đòn, hạch vú trong

Phương pháp này sử dụng tia X năng lượng cao, điều trị trong 5 đến 7 tuần, 5 lần 1 tuần

Các tác dụng phụ có thể gặp là : kích ứng da vùng chiếu, rụng lông, tóc, khô da, mệt mỏi, sạm da

Bạn không thể tránh hoàn toàn tác dụng phụ của xạ trị, nhưng có một số điều nên làm để giảm thiểu

  • Mặc quần áo rộng rãi nếu bạn đang kích ứng da.
  • Tư vấn bác sĩ các loại kem bôi, sữa tắm để không ảnh hưởng đến điều trị
  • Cố gắng không chà xát, gãi và chườm nước đá hay miếng đắp nóng lên vùng điều trị.
  • Chống mệt mỏi bằng cách nghỉ ngơi .
  • chế độ ăn uống giàu chất dinh dưỡng, năng lượng, ăn nhiều hoa quả, giảm mỡ, giảm nội tạng động vật

 

  1. Hóa trị liệu : Các thuốc được sử dụng là các thuốc độc cho tế bào ung thư , bao gồm các thuốc : Endoxan, 5FU, Methotrexate

Có nhiều phương pháp hóa trị liệu với các mục đích khác nhau:

  • Hóa trị liệu tiêu diệt các di căn nhỏ ở xa được chỉ định sau mổ tùy theo các yếu tố tiên lượng, mô học và sinh dục
  • Hóa trị liệu với mục đích giảm thể tích khối u hoặc ngăn chặn sự phát triển khối u với chỉ định trước mổ đối với các khối u thể tích lớn, hoặc tiến triển
  1. Điều trị hormone : Nguyên tắc của điều trị hormone là làm giảm kích thước khối u hoặc khối di căn bằng ảnh hưởng của estrogen. Các chế phẩm kháng estrogen có thể được lựa chọn đầu tiên với các trường hợp tiến triển. Liệu pháp này dung để điều trị hỗ trợ

Để điều trị ung thư vú, ta có thể sử dụng đơn độc hoặc phối hợp các phương pháp trên

  1. Kết luận

Hiệu quả khi điều trị ung thư vú phụ thuộc vào nhiều yếu tố tiên lượng, trong đó giai đoạn bệnh là quan trọng nhất. Đối với nhưng ung thư phát hiện sớm và điều trị kịp thời, tỉ lệ sống sau 5 năm là trên 90%. Vì vậy cần nâng cao kiến thức về ung thư vú, biết các triệu chứng sớm và sang lọc định kỳ thường xuyên, đặc biệt là những phụ nữ có các yếu tố nguy cơ kể trên

  1. Tài liệu tham khảo

About admin

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *